Bỏ qua nội dung

Bác sĩ Mary Leonard đang chỉ vào ảnh chụp cộng hưởng từ (MRI) cột sống của một người trẻ tuổi từng được ghép tủy xương khi còn nhỏ. “Đốt sống đó bị chèn ép,” Leonard, giáo sư nhi khoa và y học, đồng thời là phó hiệu trưởng phụ trách nghiên cứu sức khỏe bà mẹ và trẻ em, cho biết. “Những bệnh nhân ở độ tuổi thiếu niên hoặc đầu 20 thường bị gãy xương kiểu như ở người già.”

Ngăn ngừa gãy xương do loãng xương sớm ở những người đã trải qua các bệnh mãn tính thời thơ ấu là mục tiêu trọng tâm trong chương trình nghiên cứu của Leonard. Bà và các đồng nghiệp đã ghi nhận cấu trúc xương, khối lượng cơ và sức mạnh cơ bất thường ở trẻ em và thanh thiếu niên mắc các bệnh từ ung thư đến bệnh Crohn và ghép tạng. Tình trạng bất động, viêm nhiễm, kém hấp thu chất dinh dưỡng và điều trị bằng xạ trị hoặc steroid đều có thể gây nguy hiểm cho sự phát triển của xương.

“Chúng tôi tin rằng một khi đã qua tuổi dậy thì, xương sẽ không thể phục hồi lại trạng thái ban đầu,” Leonard nói. “Tôi cảm thấy chúng tôi đã mô tả vấn đề rất kỹ, và giờ chúng ta cần tiến hành các thử nghiệm lâm sàng để xem có thể làm gì để cải thiện sức khỏe xương ở những bệnh nhân này. Chúng tôi chỉ muốn đảm bảo rằng họ bước vào tuổi trưởng thành với bộ xương tốt nhất, chắc khỏe nhất có thể – với bộ xương bền vững suốt đời.”

Các thử nghiệm lâm sàng có thể đánh giá hiệu quả của các chương trình tập thể dục, so sánh bệnh nhân ghép thận theo phác đồ không dùng steroid với những người được dùng steroid và cuối cùng là thử nghiệm các biện pháp can thiệp bằng dược phẩm. Tại một trung tâm nghiên cứu mới của Stanford trên đường Arastradero ở Palo Alto, cả trẻ em mắc bệnh mãn tính và nhóm đối chứng khỏe mạnh sẽ trải qua ba lần đánh giá: kiểm tra sức mạnh cơ bắp; quét DXA toàn thân để định lượng xương, cơ và mỡ; và quét mắt cá chân và cổ tay bằng máy XtremeCT thế hệ mới nhất. Leonard cho biết, tổng liều bức xạ từ ba lần kiểm tra này ít hơn một tuần tiếp xúc với bức xạ nền khi sống trên Trái đất.

Máy XtremeCT là một trong 10 máy tương tự ở Hoa Kỳ, và là một trong hai máy duy nhất được sử dụng để đánh giá trẻ em mắc các bệnh mãn tính. “Tên của nó là HR-pQCT, nhưng chúng tôi gọi nó là máy hokey-pokey, vì bạn đưa tay phải vào; rồi đưa tay phải ra,” Leonard nói. Miễn là bạn không lắc mạnh máy – dường như trẻ em dưới 5 tuổi quá hiếu động để được quét – thì chụp CT độ phân giải cao sẽ cho cái nhìn chi tiết về cấu trúc xương ở tay và chân. “Quét mật độ xương DXA cho bạn biết lượng xương hiện có, nhưng không cho bạn biết đủ về chất lượng xương – độ dày, độ xốp và cấu trúc vi mô của nó,” bà nói. Bằng cách so sánh các hình ảnh trước và sau khi quét từ máy HR-pQCT, “chúng ta thực sự có thể xem xét phương pháp điều trị đang tác động như thế nào đến cấu trúc và sức mạnh của xương.”

Leonard nhận thấy hai hàm ý từ công trình nghiên cứu của bà. Thứ nhất, một số trẻ em mắc bệnh mãn tính có thể cần được điều trị tích cực hơn trước và trong giai đoạn dậy thì để cải thiện sức khỏe tổng thể và giúp chúng phát triển xương tốt hơn. Bà nói: “Nếu bạn chờ đến khi xương của trẻ phát triển hoàn thiện mới điều trị bệnh Crohn, hoặc nếu chúng không được ghép thận cho đến khi xương phát triển hoàn thiện, thì cơ hội vàng đó có thể bị bỏ lỡ”. Thứ hai, khi tuổi thọ của trẻ em mắc các bệnh hiếm gặp và từng gây tử vong ngày càng tăng, các bác sĩ cần phải lường trước những ảnh hưởng lâu dài của bệnh tật và quá trình điều trị.

“Khi bệnh nhân mắc bệnh tim bẩm sinh phức tạp hoặc ung thư sống khỏe mạnh đến tuổi trưởng thành, trọng tâm nghiên cứu cần chuyển từ việc cải thiện tỷ lệ sống sót sang tìm hiểu một số biến chứng lâu dài,” Leonard nói. “Và loãng xương và gãy xương là một phần trong đó.” 

Câu chuyện này ban đầu được đăng tải trên Tạp chí Y học StanfordBài viết này được đăng lại với sự cho phép của Văn phòng Truyền thông và Quan hệ Công chúng thuộc Trường Y khoa Stanford.